Huế Xưa & Nay TRT - 30/12/2018
Một di sản ca Huế
Công chúa Huyền Trân, người con gái quốc sắc thiên hương, giữa tuổi đôi mươi đã kết duyên cùng vua Chế Mân nước Chiêm Thành vào năm 1306 theo sự sắp đặt của vua cha Trần Nhân Tông. Cuộc hôn nhân Việt – Chàm nổi tiếng này đã đưa lại đất “hai châu Ô, Lý vuông nghìn dặm” cho quốc gia Đại Việt.

Nhiều nơi trên đất nước ta đã lập đền thờ công chúa Huyền Trân – người phụ nữ đã đi vào lịch sử của dân tộc. Tỉnh Thừa Thiên Huế - một phần đất hai châu Ô, Lý ngày xưa – đã xây dựng Trung tâm văn hóa Huyền Trân rộng 28 ha, cách đàn Nam Giao 3km, thuộc thôn Ngũ Tây, phường An Tây thành phố Huế. Tại đây có xây dựng đền thờ Huyền Trân và đền thờ vua cha Trần Nhân Tông.

Biết bao văn nghệ sỹ đã lấy mối tình lịch sử Huyền Trân – Chế Mân làm đề tài sáng tạo của mình. Trong đó Ca Huế đã có một lời ca nổi tiếng, viết về sự kiện này. Bài ca ấy có đầu đề “Nước non ngàn dặm” tác giả là ông Võ Chuẩn viết theo làn điệu Nam Bình. Ông là người Thừa Thiên Huế, quê Hương Thủy, từng giữ chức Tổng đốc Quảng Nam và Nghệ An, là con thượng thư Bộ Lễ Võ Liêm. Theo nhà nghiên cứu Dương Phước Thu, Võ Chuẩn  sáng tác bài ca này vào năm 1928. 

Điệu Nam Bình là một trong những bài bản “lớn” của ca Huế. Và cũng đã từ lâu, bài ca Nam Bình “Nước non ngàn dặm” viết về mối tình Chế Mân – Huyền Trân cũng đã được khẳng định giá trị về phương diện văn học. Có thể nói nhiều cái “nổi tiếng” gặp nhau đã làm cho bài ca Nam Bình “Nước non ngàn dặm” trở thành một di sản Ca Huế. Chúng tôi nghĩ lời bài ca trên cần được khắc bia dựng ở đền Huyền Trân ở Trung tâm văn hóa Huyền Trân; được dàn dựng để phát thanh và phát hình ở đền. Người dân và khách thập phương khi đến viếng đền, tâm hồn càng được lắng đọng trong âm điệu và lời ca của điệu Nam Bình khiến không khí tưởng niệm càng được tôn thêm. 

Tuy nhiên để khắc bia sáng tác của Võ Chuẩn, chúng ta phải thống nhất văn bản của nó. Lý do là không có văn bản gốc của bài Nam Bình này. Chúng tôi thấy hiện lưu hành có ít nhất ba đầu đề, đó là “Công chúa Huyền Trân”, “Tình phân ly” và “Nước non ngàn dặm”. Theo chúng tôi, “Nước non ngàn dặm” là hay hơn cả, do đó nên thống nhất chọn làm đầu đề này. Về nội dung, lời ca trong bài cũng thấy có khác nhau trong văn bản cũng như khi ca của một số ca sĩ. Ba chữ “Cái lương duyên” thay bằng “Số lao đao”. Thiết nghĩ “Số lao đao” làm hạ thấp ý nghĩa lớn lao của sự kiện công chúa Đại Việt kết duyên cùng vua Chiêm Thành đầu thế kỷ XIV. Câu: “Cũng liều... như hoa tàn, trăng khuyết” có người ca thành “Tuyết sương dầm thân này đau xiết”; “Cũng liều” thành “Quyết liều”. Những lời ca ấy không những làm giảm giá trị văn học của lời ca, mà còn không đúng với cuộc tình của Huyền Trân.

Riêng cụm từ “hướng dương hoa quỳ” có các “dị bản”: “bóng như hoa quỳ”, “bóng dương hoa quỳ”, “bóng vương hoa quỳ”. Vậy bản nào là phù hợp? Trước hết ta biết rằng hoa quỳ là một loài hoa sen, hay cùng chi - họ với hoa sen, nên còn gọi là “sen quỳ”. Hoa quỳ cũng có màu hồng nhưng đậm hơn hoa sen. Hoa quỳ còn có màu trắng. Về trường hợp “bóng vương hoa quỳ”, có người cho rằng hoa quỳ có màu đen, tượng trưng cho Chế Mân, còn “bóng vương” là Huyền Trân, bóng (Huyền Trân) vương vào hoa quỳ (màu đen - tượng trưng cho Chế Mân) là một “lý giải” thiếu căn cứ, vì hoa quỳ màu hồng hay trắng. Còn “bóng như hoa quỳ” - thuần túy ca ngợi vẻ đẹp của Huyền Trân thì cũng không thật phù hợp với lời ca trước đó là “tình lai láng”. Tả nhan sắc Huyền Trân, tác giả đã viết “má hồng da tuyết” trước đó, và tiếp theo ví Huyền Trân như hoa sen quỳ. Vả lại, “bóng như hoa quỳ” lời ca có phần đơn giản, e rằng không phải là văn phong của một bậc nho học uyên thâm. Còn “bóng dương hoa quỳ” có vẻ tối nghĩa. Như vậy chúng tôi nghĩ: Tình lai láng, hướng dương hoa quỳ là phù hợp hơn cả. “Hướng dương” ở đây là hướng về mặt trời chứ không phải là hoa hương dương. Nếu hiểu là hoa hướng dương thì “hướng dương hoa quỳ” không có nghĩa gì. “Hướng dương hoa quỳ” nói lên nỗi lòng của Huyền Trân đi làm dâu nước ngoài mà tình cảm luôn hướng về cố quốc, về triều đình... như đóa hoa quỳ luôn hướng về ánh mặt trời. Tư liệu sau lý giải thêm điều đó. Báo An ninh thế giới số 171, tháng 3.2016 cho biết cuốn sách Phan Thanh Giản (1796 - 1867) viết: “Một hôm có quan Tổng đốc Vĩnh Long là Trương Văn Uyển đến thăm, nhân vui miệng có hỏi: “Sao quan lớn không dùng hầu thiếp?”. Thanh Giản đáp:”Tôi không đủ ngày giờ lo việc quốc gia, còn ngày giờ đâu mà lo việc hầu thiếp. Tôi chỉ thích hoa quỳ, vì sắc nó đẹp tự nhiên, hương nó thơm dìu dịu, sắc hương người có sánh được đâu. Vả lại, tính nó cũng rõ ràng, ngay thẳng, nó mới nhìn mãi mặt trời mà không chút thẹn. Vậy tôi yêu quý nó hơn đàn bà đẹp”. Như vậy “hướng dương hoa quỳ” tả nhan sắc, vừa nói lên tình cảm, phẩm hạnh của công chúa Huyền Trân. Ngoài ra,  văn bản lưu hành bài Nam Bình của Võ Chuẩn có từ “lộn” trong câu “Vàng lộn theo chì”, khi ca lên, nghe rất dễ nhầm với một từ “nhạy cảm”, nên ca sĩ ca thành “lẫn”. Văn bản cũng nên thay từ “lộn” thành “lẫn”.

Từ những lý giải trên, có thể đi đến thống nhất văn bản bài ca Nam Bình của Võ Chuẩn như sau:

NƯỚC NON NGÀN DẶM

(Ca Huế - điệu Nam Bình)

     Nước non nghìn dặm ra đi
     Cái tình chi!
     Mượn màu son phấn
     Đền nợ Ô – Ly
     Đắng cay vì
     Đương độ xuân thì.

     Độ xuân thì
     Cái lương duyên hay là nợ duyên gì
     Má hồng da tuyết
     Cũng liều thân như hoa tàn trăng khuyết
     Vàng lẫn theo chì
     Khúc ly ca sao còn mường tượng nghe gì!
     Thấy chim hồng nhạn bay đi
     Tình lai láng, hướng dương hoa quỳ…

     Dặn một lời Mân quân
     Nay chuyện đà như nguyện
     Đặng vài phân
     Vì lợi cho dân
     Tình đem lại mà cân
     Đắng cay muôn phần…!

Điệu Nam Bình thật đặc sắc, buồn man mác mà không bi lụy, thâm trầm da diết mà vẫn tha thiết, bâng khuâng. Âm nhạc ấy cùng với lời ca hàm súc, giàu tính thơ đã nâng “Nước non ngàn dặm” trở thành một di sản Ca Huế. Ước mong văn bản “Nước non ngàn dặm” của Võ Chuẩn được khắc bia dựng ở đền tưởng niệm công chúa Huyền Tân ở thành phố Huế.

Minh Khiêm

Bản in    Gửi email
Tin mới
Mới lạ Tuồng của học sinh  (20/06/2019)
Mùa măng cụt  (19/06/2019)
Chiếc radio nhớ thương  (19/06/2019)
Triển vọng cây trồng mới trên vùng gò đồi Phong Xuân  (18/06/2019)
Người trẻ vẽ mặt Tuồng  (14/06/2019)
Xem theo ngày  
Tên của bạn
Email của bạn
Email người nhận
Tiêu đề
Thông điệp
     


Trang chủ | Tin tức | Chuyên đề Liên hệ tòa soạn | Liên hệ quảng cáo
Bản quyền của Đài Phát thanh Truyền hình Thừa Thiên Huế. Sử dụng thông tin của website này phải ghi rõ nguồn www.trt.com.vn
Giấy phép Số 23/GP-TTĐT cấp ngày 30 tháng 3 năm 2015 của Cục PT, TH & TTDT - Bộ Thông tin và Truyền thông
Tòa soạn: Số 58 Hùng Vương, thành phố Huế, Tel.: (054)3822162, Fax:(054)3822162, Email: dptth@thuathienhue.gov.vn
Thiết kế và phát triển: Trung tâm Công nghệ Thông tin Thừa Thiên Huế (HueCIT)